An Hiểu Phong bưng hộp cơm đã nguội ngắt bước ra khỏi tòa nhà văn phòng của Phòng Cảnh sát hình sự, ngồi ăn trên bậc cầu thang trước cửa. Nhiều năm qua, mỗi khi có vấn đề gì nghĩ không thông, hay những lúc cảm thấy bất lực cần sự giúp đỡ, anh thường lặp đi lặp lại hành động này như một thói quen.
Nhưng hôm nay, anh biết rõ không thể trông chờ “sếp Toàn” tới chỉ dẫn mình cách tháo gỡ mớ bí ẩn này, càng chẳng thể đợi được cô phóng viên xinh đẹp từng đứng dưới lá mùa thu rụng năm nào.
Mà những nghi vấn chưa thể tháo gỡ, vẫn cứ vướng mắc như căn bệnh kinh niên bám riết, cần một liều thuốc cực mạnh, nếu không cuối cùng sẽ bị nó đánh gục.
Rốt cuộc Điêu Quân Ni đã tự sát hay bị giết hại?
Tại sao lúc chết trên người cô lại mặc áo của Thành Hề Nhị? Rốt cuộc sự mất tích của Tiểu Nhị có liên quan gì đến Điêu Quân Ni?
Bị ba câu hỏi này vây hãm, bữa trưa chẳng ăn được bao nhiêu An Hiểu Phong đã quẳng hộp cơm vào thùng rác. Anh thoáng nhìn đồng hồ đeo tay, thời gian hiển thị đã 3:15 chiều, mà vấn đề đang bế tắc nghĩ mãi vẫn chưa thông.
An Hiểu Phong thấy dạ dày đau nhói, anh vừa xoa bụng vừa hồi tưởng lại những sự việc đã trải qua trong ngày. Buổi sáng, xử lý hiện trường. Buổi chiều, vội vàng quay về đội báo cáo tình hình vụ án với cấp trên, rồi ăn uống qua loa. Sau đó, anh phải đến Phòng Pháp y, chờ kết quả đối chiếu DNA để xác định danh tính nạn nhân và liên hệ với gia đình.
An Hiểu Phong bắt mình phải tập trung tinh thần vào vụ án, cố không nghĩ đến cơn đau dạ dày, sải những bước dài đi về phía Phòng Pháp y.
Lúc ngang qua cửa phòng tiếp đón ở tầng 1, anh để ý thấy vài nhóm thân nhân lần lượt kéo nhau đến. Sau khi tới nơi, họ ngồi xuống ghế trong phòng tiếp đón một cách quen thuộc, lặng lẽ chờ đợi.
“Chuyện gì thế?” An Hiểu Phong hỏi viên cảnh sát hình sự đang ở ngoài cửa, phụ trách lấy nước cho những người kia.
“Thì phát hiện một thi thể bên đường Hóa Công ấy.” Anh chàng thở dài, “Những thân nhân này hay tin nên chạy tới đây.”
“Họ đều có người thân bị mất tích sao?”
Cậu ta gật đầu nói: “Này chưa là gì đâu, hiện mới hơn 3 giờ, đến lúc có kết quả đối chiếu DNA, khéo còn cả đám đông khác kéo đến nữa ấy.”
“Vì không muốn kinh động đến những người không liên quan, chúng ta đã rất kín kẽ rồi.”
“Ồi, biết làm sao được. Cái xác treo lơ lửng trên cầu như thế, cảnh sát có giữ nữa cũng vô ích, chỉ một buổi sáng thôi, e là cả thành phố đều biết hết rồi.”
“Để tôi đi xem có kết quả đối chiếu DNA chưa.” An Hiểu Phong bước nhanh về phía Phòng Pháp y.
Vừa tới cửa đã thấy Lưu Khôn và Mã Tuấn Kiệt vẫn đang sốt ruột chờ đợi. Mã Tuấn Kiệt thò đầu qua cửa ngó nghiêng bên trong. Lưu Khôn thì đang xem mấy bức ảnh chụp hiện trường.
“Vẫn chưa có à?” An Hiểu Phong hỏi.
“Họ bảo phải đợi một lúc nữa.” Lưu Khôn trả lời.
“Đây là ảnh của bên giám định dấu vết hả?”
Lưu Khôn vẻ mặt thất vọng, đưa cho An Hiểu Phong: “Ở hiện trường ngoài dấu chân và vân tay của nạn nhân ra, không phát hiện dấu vết nào của người khác. Có khi tự sát thật.”
An Hiểu Phong quan sát kỹ mấy bức ảnh trong tay, quả thực không thấy điểm gì đáng ngờ: “Dấu chân đơn lẻ, không lộn xộn, trùng khớp với vị trí trèo qua lan can, hướng dấu tay để lại khi bám vào thanh vịn cũng phù hợp với đặc điểm tự mình nhảy xuống.”
Mã Tuấn Kiệt đi tới, cầm ảnh lên xem: “Tại hiện trường quả thực không có manh mối giá trị nào, ngoài chiếc áo gió trên người nạn nhân có vẻ như là của phóng viên Thành.”
“Tôi dám khẳng định đó là áo của Tiểu Nhị.” An Hiểu Phong nói, “Đương nhiên, câu trả lời cuối cùng vẫn phải căn cứ theo kết quả hóa nghiệm bên kỹ thuật.”
“Giờ chỉ còn đợi xác định danh tính nạn nhân. Đội phó An, Tiểu Lưu, một mình em ở đây chờ được rồi, mọi người nghỉ ngơi một lát đi.” Mã Tuấn Kiệt nói.
An Hiểu Phong suy nghĩ một chút rồi nói với Lưu Khôn: “Cô theo tôi.”
Vừa nói, An Hiểu Phong vừa dẫn Lưu Khôn đi về phía Phòng Tiếp đón.
Vừa bước vào, cảnh tượng bên trong khiến An Hiểu Phong cảm thấy có chút kinh ngạc. Chỉ mới một lúc mà trong phòng đã xuất hiện thêm mấy nhóm thân nhân có người mất tích. Hơn nữa, vẫn còn đang không ngừng kéo đến. Tất cả dường như đều đã quen quy trình xác định danh tính của phía cảnh sát, sau khi tới nơi mỗi người tự tìm một chỗ ngồi xuống, không hề nói chuyện, chỉ đợi công bố kết quả.
Tâm trạng An Hiểu Phong càng trở nên nặng nề, trên những gương mặt ấy anh nhìn thấy nỗi đau đớn khi mất đi người thân, cả sự tuyệt vọng và chai sạn vì nỗi đợi chờ đằng đẵng. Anh bỗng nhớ lại mấy câu sếp Toàn từng nói trước đây.
“Vấn đề người mất tích sẽ luôn tồn tại trong thời gian dài. Có thể có những người cả đời cũng không tìm thấy, còn có người thì được tìm ra bằng một vụ án mạng. Dù kiểu nào cũng đều là nỗi giày vò đau đớn cùng cực của người thân.” Đây cũng là lý do chính khiến bao năm nay, Đội 1 do sếp Toàn lãnh đạo luôn dốc sức phá các vụ mất tích.
Mặc dù suốt mười năm, Đội 1 luôn trên dưới đồng tâm đồng lòng, cùng hiệp lực phá không ít vụ, cũng tìm được rất nhiều người, nhưng vẫn có một phần rất lớn những người từ khi mất tích cứ như bốc hơi khỏi nhân gian, chẳng tìm được bất kỳ dấu vết nào nữa.
Nhìn những thân nhân trong Phòng Tiếp đón ngày một đông, trong lòng An Hiểu Phong chỉ quanh quẩn một câu: Gánh nặng đường xa.
“Cô đi giúp đỡ an ủi tâm trạng họ đi.” An Hiểu Phong nói với Lưu Khôn.
Lưu Khôn là phụ nữ, đã rất quen thuộc với công việc này. Cô len lỏi giữa đám đông, lúc thì rót nước, lúc thì động viên, dùng nụ cười đầy vẻ chính trực và ấm áp của mình xua tan đi nỗi chai sạn và lạnh lẽo trên những gương mặt.
An Hiểu Phong bỗng để ý một cụ ông anh thấy rất quen mặt, đang được người giúp việc dìu từng bước, lật đật loạng choạng bước vào.
An Hiểu Phong tiến lại: “Cụ Hạ, sao cụ lại đến đây?”
“Tôi nghe tin bên đường Hóa Công rồi.” Trên gương mặt già nua của ông vẫn mang vẻ ngoan cường.
“Đấy là một cô gái, nhà cụ là cháu trai mất tích mà, thế này...”
“Đã lâu vậy rồi, bên cảnh sát cứ có thông tin gì tôi đều phải đến. Chẳng cần biết có phải không, nhưng nghe thấy kết quả cũng tạm yên lòng, về nhà còn ngủ được một giấc, phải không nào.” Ông cụ nói.
“Thôi cụ về đi, lần này thật sự không phải đâu.”
“Mấy người kia tôi quen cả.” Ông cụ chỉ vào các thân nhân đang ngồi trên ghế, “Lần trước đến cũng có họ. Để tôi qua đấy ngồi chung, cùng chờ một lúc cũng được mà.”
Nói đoạn, cụ ông nhất quyết đi về phía chiếc ghế trống, nhọc nhằn ngồi xuống rồi gật đầu với những người bên cạnh, vỗ vai, chào hỏi họ trong lặng lẽ. Người nhà mình còn chưa tìm thấy mà vẫn cố mạnh mẽ để an ủi người khác. An Hiểu Phong chỉ biết lắc đầu, trong lòng đầy chua xót.
Ở góc phòng chỗ gần cửa ra vào, có một phụ nữ trung niên đang ngồi. Chị ta đội chiếc mũ bucket cũ màu đen, cúi đầu rất thấp, hai chân run rẩy bất an. An Hiểu Phong nhận ra đó chính là Lý Mi Vân.
An Hiểu Phong tiến lại: “Chị cũng đến đây à?”
Lý Mi Vân không ngẩng đầu lên, cũng chẳng nói gì. Đôi chân càng run mạnh.
Đang định nói tiếp thì An Hiểu Phong nghe thấy hai người phụ nữ bên cạnh thì thầm với nhau.
“Hình như lần này tìm thấy người nhà tôi.” Một người nói.
“Không phải đâu. Con gái chị mới 14 tuổi mà? Nghe bảo tìm thấy hôm nay là người lớn.” Người kia đáp.
“Ba năm bảy tháng mười bốn ngày rồi, con bé chắc cũng phải cao lên rồi chứ.”
“Thế cũng không phải. Con gái chị tóc dài còn người lần này nghe bảo để kiểu tóc học sinh. Không khéo là đứa nhà chúng tôi cũng nên.”
“Tóc cắt được mà, phải không?”
“Đúng rồi, đúng vậy. Tóc có thể cắt, dáng vẻ cũng có thể khác đi, chỉ DNA là không thể thay đổi.”
Một người đàn ông trung niên nói chen vào: “DNA cũng có thể thay đổi đấy. Các bà chưa nghe bao giờ à? Có bệnh nhân bị thay đổi DNA sau khi làm cấy ghép tủy xương đấy.”
Trên mặt hai người phụ nữ lộ vẻ vô cùng thất vọng: “Thế thì phải làm sao?”
“Liệu chúng ta còn tìm được con gái nữa không?”
Lưu Khôn cũng nghe thấy cuộc nói chuyện, vội vàng tiến lại, ngồi xổm xuống trước hai người phụ nữ, kiên nhẫn giải thích: “Đúng là cấy ghép tủy xương có thể làm thay đổi DNA. Nhưng thông thường chỉ thay đổi DNA của hệ tạo máu và miễn dịch, các bộ phận khác không bị ảnh hưởng. Trong lâm sàng, khi tiến hành ghép tủy, thường người ta sẽ cấy ghép tế bào gốc tạo máu từ tủy xương, những tế bào này có thể tái tạo hệ thống tạo máu và miễn dịch của người bệnh, từ đó dẫn đến khả năng DNA của người được ghép bị thay đổi, nhưng tế bào của những hệ thống khác, như gan, phổi... sẽ không xảy ra biến đổi. Sau khi ghép tủy, bệnh nhân có thể gặp tình trạng bệnh ghép chống chủ (GVHD), đôi khi còn có thể xảy ra nhiễm trùng. Thông thường, tế bào hồng cầu và bạch cầu trong cơ thể có chu kỳ thay thế nhất định, nên trong vòng ba tháng kể từ khi ghép tủy, DNA của bệnh nhân có thể bị biến đổi, nhóm máu có thể khác đi, nhưng thường chỉ giới hạn trong hệ tạo máu mà thôi.”
Sau một loạt giải thích về kiến thức chuyên môn, mọi người nghe cũng chẳng hiểu mấy, nhưng không ai hỏi sâu thêm, vì họ hiểu thứ mình cần không phải những mấy chuyện này, mà là một người đáng tin cậy ở bên cạnh nói chuyện, bù đắp phần nào cảm giác chơi vơi vì mất mát.
Bỗng nhiên, cửa Phòng Tiếp đón mở ra. Lần này người bước vào không phải thân nhân có người mất tích, mà là Mã Tuấn Kiệt và bác sĩ pháp y Triệu.
An Hiểu Phong để ý thấy trên tay bác sĩ Triệu cầm một tờ giấy. Biết đã có kết quả, anh vừa bước nhanh tới bên cạnh bác sĩ Triệu, vừa ra hiệu với Lưu Khôn, bảo cô ở lại bên cạnh Lý Mi Vân, sẵn sàng trấn an chị ta.
Bác sĩ Triệu hắng giọng, tuyên bố: “Thi thể nữ giới được phát hiện sáng nay trên cầu vượt đi bộ tại khu vực giữa đường Hóa Công, qua đối chiếu DNA, bộ phận pháp y đã xác định được danh tính nạn nhân.”
Các thân nhân nhìn chằm chằm về phía bác sĩ Triệu bằng ánh mắt mệt mỏi, chỉ có Lý Mi Vân là không ngẩng đầu lên mà càng cúi thấp hơn. Lưu Khôn ngồi xuống bên cạnh, ôm lấy vai chị ta.
“Đã đối chiếu DNA của thi thể với mẫu máu do thân nhân đến báo án lưu lại trong cơ sở dữ liệu người mất tích phía cảnh sát,” bác sĩ Triệu tuyên bố tiếp, “nạn nhân là nữ giới, năm nay 20 tuổi, đang là sinh viên năm 2 khoa Máy tính trường Đại học Bách khoa, tên Điêu Quân Ni.”
Lời vừa dứt, tất cả người có mặt trong phòng đều giật mình “ồ” lên, rồi bật khóc nức nở. Tất cả cùng nhau khóc.
Thấy vậy, An Hiểu Phong và bác sĩ Triệu vội đi an ủi từng người.
“Không phải người nhà cô, sao cũng khóc thế?”
“Cụ Hạ, đừng khóc nữa, đã nói với cụ từ đầu, không phải cháu cụ mà.”
“Chuyện gì thế này? Nghe tin không phải người nhà mình sao cũng khóc thế?”
Lời khuyên nhủ của các cảnh sát chẳng thể ngăn nổi tiếng khóc than, trong nháy mắt cả phòng trở nên hỗn loạn. Chỉ có một người không khóc, chính là Lý Mi Vân đang tựa vào lòng Lưu Khôn, vì chị ta đã ngất rồi.
An Hiểu Phong vội rút điện thoại gọi cấp cứu 120.
Trong vài phút chờ xe cứu thương đến, An Hiểu Phong còn bập bõm nghe thấy bác sĩ Triệu nói chuyện với các thân nhân.
“Không phải con gái chị, sao chị cũng khóc theo?” Bác sĩ Triệu hỏi.
“Không phải con gái tôi, chứng tỏ khả năng nó vẫn còn sống, tôi đang khóc vì vui mừng.” Một người phụ nữ nói.
“Thế còn chị thì sao?” Bác sĩ Triệu quay qua hỏi.
“Tuy không phải con tôi, nhưng cũng là con gái nhà người ta. Chứng kiến cảnh ai khác mất đi người thân, tôi cũng thấy đau lòng, khóc được ra coi như là giải tỏa tâm lý.” Một người phụ nữ khác nói.
“Cụ Hạ, người nhà cụ mất tích là cháu trai, cụ đừng khóc theo nữa, không tốt cho sức khỏe”, bác sĩ Triệu lại quay sang khuyên nhủ.
“Các cậu chẳng hiểu tâm trạng chúng tôi gì cả,” cụ Hạ vừa lấy tay quệt nước mắt vừa nghẹn ngào, “sau khi người thân mất tích, trong lòng trở nên trống trải, chỉ cần hay tin đâu đó tìm thấy thi thể, nghe ở đâu xảy ra án mạng, liền lập tức trở nên nhạy cảm, đều muốn tới xem sao. Đó là loại tâm trạng vừa mong chờ vừa sợ hãi. Mong chờ tìm được người thân của mình, nhưng cũng lo sợ lúc tìm được chỉ là cái xác. Có lúc cứ nghĩ chẳng thà không tìm thấy người, vì chỉ cần không nhìn thấy thi thể thì người thân của mình có thể vẫn còn sống. Vậy nên tâm trạng cứ lên xuống từng cơn, lúc thì mong tìm thấy, khi lại hy vọng là chưa tìm ra. Cảm xúc theo đó mà hỗn loạn.”
An Hiểu Phong sớm đã không thể kìm nén cảm xúc, ôm chầm lấy cụ Hạ, cả hai đều nước mắt lã chã tuôn rơi.
Vào lúc 6:30 chiều, cuộc họp về chuyên án Điêu Quân Ni được tổ chức tại phòng họp của Đội Trinh sát.
Sau khi An Hiểu Phong dẫn Lưu Khôn, Mã Tuấn Kiệt vào thì thấy đội trưởng Đội Trinh sát – người chủ trì cuộc họp đã đến.
“Chúng ta bắt đầu nào, đội pháp y sẽ tới bây giờ.” Đội trưởng Đội Trinh sát quay người sang phía bộ phận giám định dấu vết nói: “Hay đội các cậu trình bày trước đi.” Một chuyên viên đứng lên, đi đến bên cạnh máy chiếu mở lên một bức ảnh hiện trường. Trong ảnh, thi thể Điêu Quân Ni đang treo lơ lửng dưới chân cầu vượt, tất cả lại một phen rợn người.
“Vị trí tìm thấy thi thể như trong hình, tại cầu vượt dành cho người đi bộ ở khu vực đường Hóa Công.” Cậu chuyên viên giám định cho biết, “Do điều kiện hạn chế, không tìm thấy thêm bằng chứng hay dấu vết gì từ mặt đường phía dưới thi thể. Vì vậy chúng tôi chủ yếu tập trung thu thập manh mối trên cầu.” Chuyên viên giám định chuyển sang bức ảnh tiếp theo, đó là bức ảnh chụp một phần cầu vượt nơi buộc sợi thừng, “Một đầu dây được cột vào lan can cầu vượt, nạn nhân bị dây thừng siết vào cổ và treo lơ lửng dưới cầu. Chân thi thể cách mặt đất 2,5 mét, nạn nhân cao 1,65 mét, chiều dài dây thừng ở phần treo là 2,5 mét, tổng chiều dài 3,75 mét.”
“Có điều gì đặc biệt không?” Đội trưởng Đội Trinh sát hỏi.
“Điều đáng chú ý là chất liệu”, chuyên viên giám định dấu vết chiếu hình ảnh về sợi dây. “Đây không phải loại thừng bình thường mà là loại leo núi chuyên dụng.”
“Dây thừng leo núi?!” Mọi người đồng thanh thốt lên kinh ngạc.
“Đúng vậy.” Chuyên viên giám định dấu vết tiếp tục giới thiệu, “đương nhiên, dây thừng leo núi chỉ là một thuật ngữ chung, nó không chỉ dùng trong hoạt động leo núi mà còn có thể làm dây kéo, thoát hiểm, cứu hộ, cứu hỏa và các lĩnh vực khác nữa; đây là loại dây rất chuyên nghiệp, thông thường thợ sửa điều hòa hoặc những người làm việc trên cao hay sử dụng làm dây an toàn.”
“Loại này khó mua không?” Đội trưởng Đội Trinh sát hỏi.
“Dễ.” Chuyên viên giám định nói tiếp, “Ở các cửa hàng dụng cụ leo núi, hoặc vật dụng cho hoạt động ngoài trời, thậm chí chỗ mấy tiệm bán đồ bảo hộ lao động đều có. Tôi muốn nhấn mạnh thêm điều này, dây leo núi chuyên dụng thường có hai loại: dây chính và dây phụ. Dây chính phải là loại có đường kính 10 mi-li-mét, trọng lượng mỗi mét 0,08 kg, độ bền sức kéo không nhỏ hơn 1.800 kg, vật liệu chính là sợi nylon. Sợi dây sử dụng trong vụ án này nhỏ hơn rõ, đường kính chỉ 8 mi-li-mét, trọng lượng mỗi mét là 0,06 kg, sức kéo chỉ 1.600 kg, chủ yếu sử dụng cho các hoạt động như leo vách giả trong nhà.”
“Gần đây có ghi nhận Điêu Quân Ni mua loại này không?” Đội trưởng Đội Trinh sát hỏi An Hiểu Phong.
“Hoàn toàn không,” An Hiểu Phong trả lời. “Nhưng cũng khá khó điều tra. Toàn thành phố có hàng trăm cửa hàng, cũng chưa chắc mua ở đây, thậm chí có thể đặt online.”
“Chứng cứ dấu vết thì sao?” Đội trưởng Đội Trinh sát lại hỏi.
Cậu chuyên viên lại chiếu hai hình ảnh về hiện trường, một tấm là hình ảnh lan can nơi buộc dây thừng, một tấm là mặt cầu khu vực bên cạnh: “Chúng tôi tìm thấy vài dấu chân của nạn nhân ở gần khu vực lan can buộc dây, tuy không được rõ cho lắm, nhưng có thể xác nhận là của nạn nhân. Chúng tôi cũng tìm được hai dấu vân tay trên tay vịn, cũng của nạn nhân, hướng tay cầm phù hợp với đặc điểm rơi sau khi trèo qua lan can. Ngoài ra, không có dấu lòng bàn tay, vân tay hay dấu chân nào khác ở khu vực xung quanh, càng không có dấu hiệu vật lộn.”
Đội trưởng Đội Trinh sát gật đầu và hỏi một kỹ thuật viên khác: “Mẫu sinh học thì sao?”
Nhân viên kỹ thuật trả lời: “Chúng tôi lấy mẫu trên dây thừng và đưa đi xét nghiệm DNA, chỉ tìm thấy mảnh da của nạn nhân.”
“Nạn nhân tự buộc dây thừng sao?” Đội trưởng Đội Trinh sát hỏi.
“Không loại trừ khả năng đó. Chí ít, tần suất và lực tiếp xúc của nạn nhân đủ mạnh mới khiến bong một mảng da lớn như vậy”, nhân viên kỹ thuật đáp.
“Có phải do giãy giụa trước khi chết không?” An Hiểu Phong ngắt lời.
“Khó lắm,” nhân viên kỹ thuật trả lời với giọng chắc nịch, “Từ mức độ bị kéo dãn của phần cổ nạn nhân cho thấy, cô bé đã tròng đầu vào dây thừng rồi nhảy xuống. Với trọng lực lớn như vậy, xương cổ sẽ gãy ngay lập tức, cô bé cũng sẽ mất đi ý thức, không thể xảy ra tình trạng trên được.”
“Ý của cậu là cả chứng cứ sinh học lẫn dấu vết đều không thiên về bị sát hại?” Đội trưởng Đội Trinh sát hỏi.
Mấy nhân viên kỹ thuật đều đồng loạt gật đầu.
“Vậy phải xem bên pháp y nói gì.”
Đội trưởng vừa dứt lời thì bác sĩ Triệu tất tả đẩy cửa bước vào, đặt tập báo cáo kết quả trên tay xuống trước mặt đội trưởng, nói:
“Đã có báo cáo khám nghiệm sơ bộ. Trên thi thể nạn nhân không có vết thương ngoài rõ rệt. Ba loại chấn thương theo thuật ngữ pháp y của chúng tôi là: chấn thương do bị trói, chấn thương vì bị đe dọa và chấn thương lúc chống cự, đều không tìm thấy. Nguyên nhân cũng được xác định phù hợp với tắc nghẽn cơ học gây ngạt thở dẫn đến tử vong, chính là các đặc điểm của tình trạng treo cổ. Tuy nhiên, trường hợp này khá đặc biệt, chủ yếu vì hai điểm.” Mọi người đều lắng nghe một cách chăm chú.
“Thứ nhất là phương thức không phải là kiểu treo cổ thông thường, mà rơi từ trên cao xuống.” Pháp y Triệu chiếu hình ảnh thi thể lơ lửng trên cầu và bức ảnh chụp cận nút thắt sợi thừng, “Thứ hai là phần nút thắt tháo ra từ cổ nạn nhân, mọi người nhìn xem, đây không phải là kiểu phổ biến, mà là dạng thắt thòng lọng hết sức chuyên nghiệp.”
“Nút thắt thòng lọng!” Mọi người thốt lên kinh ngạc.
“Trước đây, một số quốc gia đã sử dụng loại nút thắt này khi hành quyết tử tù bằng cách treo cổ. Đặc điểm của nó là càng kéo thì càng thít chặt. Với trọng lượng của cơ thể thì ngay cả khi không rơi từ trên cao xuống, chỉ cần loại bỏ điểm tựa dưới chân, dây thòng lọng sẽ siết lại cho đến khi tử vong, căn bản không có cách nào thoát thân.” Vừa nói, bác sĩ pháp y Triệu vừa lấy ra một sợi thừng mỏng, thành thục biểu diễn cách thắt cho mọi người xem: “Bây giờ tôi sẽ chỉ cho anh.” Sau khi xem xong màn trình diễn, đội trưởng hỏi: “Vừa là dây thừng leo núi chuyên nghiệp vừa là nút thắt thòng lọng. Liệu có phải ám chỉ theo hướng bị sát hại không?”
“Vẫn chưa đủ chứng cứ để kết luận.” Bác sĩ Triệu trả lời.
“Ý kiến bên phía Pháp y là tự sát sao?”
“Mặc dù chúng tôi chỉ tiến hành khám nghiệm tử thi sơ bộ do hạn chế về mặt thời gian,” bác sĩ Triệu giải thích, “nhưng gần như đã nắm bắt được thông tin cơ bản. Dựa trên tình trạng co cứng, thân nhiệt, màu sắc trên da và các chất trong dạ dày, ước tính thời gian tử vong của nạn nhân là từ 2 đến 3 giờ sáng. Theo đặc điểm vết hằn để lại trên cổ, có hiện tượng bị siết kéo, trùng khớp với đặc điểm chết do treo cổ. Đốt sống cổ của nạn nhân bị gãy, các mô mềm bị kéo căng, biến dạng nghiêm trọng, cũng đúng với đặc điểm tử vong do bị siết cổ sau khi rơi từ độ cao xuống. Ngoài ra, móng tay của nạn nhân vẫn còn nguyên vẹn, sạch sẽ, không tìm thấy mẫu sinh học khác trên đó. Không phát hiện vết tinh dịch hay dấu hiệu bị xâm hại bên trong hoặc ngoài âm đạo. Cuối cùng, tôi xin bổ sung thêm là màng trinh của nạn nhân vẫn còn nguyên vẹn, cô bé vẫn còn trong trắng.”
“Không bị xâm hại, không thương tích bên ngoài, trước khi chết có biểu hiện chán ghét mọi chuyện xung quanh, quan hệ với gia đình cũng không được tốt đẹp.” Đội trưởng phân tích, “Không lẽ là tự sát thật?”
“Với những thông tin nắm bắt được tại thời điểm này, bộ phận pháp y chúng tôi tán đồng ý kiến tử vong do treo cổ tự sát.” Pháp y Triệu lên tiếng, “Theo phán đoán sơ bộ, nạn nhân do mâu thuẫn gia đình, tự ý rời trường, sau vài ngày trốn tránh một mình, tinh thần suy sụp, cô bé đã mua loại dây thừng chuyên dụng, tự học cách thắt nút thòng lọng trên mạng, sau đó vào khoảng 2 giờ sáng, đã đi bộ lên cầu vượt thưa thớt người qua lại ở khu vực đường Hóa Công. Đầu tiên, cô bé buộc một dây vào lan can cầu, sau đó tròng đầu vào thòng lọng, cuối cùng trèo qua thành cầu rồi nhảy xuống, tự hành quyết bản thân bằng hình thức... treo cổ”. Sau khi nghe xong cái kết đầy đau đớn và tuyệt vọng đó, mọi người không khỏi xì xào to nhỏ.
Đột nhiên, An Hiểu Phong kích động đứng bật dậy: “Không, Điêu Quân Ni không tự sát, mà bị giết hại.”
“Cậu nói vậy có chứng cứ gì không?” Đội trưởng hỏi.
“Áo khoác.” An Hiểu Phong nói, “Chiếc áo gió màu be mà cô bé mặc.” Tất thảy mọi người chìm vào suy nghĩ.
Tiếng gõ cửa vang lên, một nhân viên kỹ thuật khác bước vào. Anh ta đưa bản báo cáo hóa nghiệm cho nhân viên phụ trách kỹ thuật rồi quay người rời đi.
Sau khi xem xong, nhân viên kỹ thuật gật đầu với An Hiểu Phong nói: “Chúng tôi lấy được mẫu da và tóc trên áo gió, sau khi đối chiếu DNA xác nhận là của Thành Hề Nhị.”
“Trước khi Tiểu Nhị mất tích, cô ấy đang điều tra vụ án Điêu Quân Ni. Nhất định là do đã phát hiện được gì đó mới khiến bản thân bị cuốn theo. Vì thế, cái chết của Điêu Quân Ni không đơn thuần là tự tử, mà là một vụ giết người được lên kế hoạch tỉ mỉ kỹ lưỡng.” An Hiểu Phong lớn tiếng nói bằng giọng kiên quyết.
“Nhưng tất cả các manh mối hiện tại không đi theo hướng vụ án giết người.” Đội trưởng cau mày.
“Tôi sẽ chứng minh cho anh thấy.”
“Tiểu An à,” đội trưởng thành khẩn nói, “phóng viên Thành mất tích là bạn gái của cậu, không phải cậu nên tránh à? Hay là giao lại cho bên Đội 2 xử lý?”
“Không, em sẽ đích thân điều tra vụ này, nhất định em sẽ chứng minh phán đoán của mình!”
